Trở lại với vụ tàu thủy lớn nhất thế giới Lusitania của Anh bị đánh chìm năm 1915
Ngày 07/5/1915 con tàu thủy chở khách xuyên đại dương RMS Lusitania của Anh thuộc dạng lớn nhất thế giới ở thời điểm đó, đã bị tàu ngầm Đức bắn chìm, cướp đi mạng sống của gần 1.200 người, trở thành vụ tai nạn đường thủy lớn nhất trong thời chiến.
Tàu ngầm Đức đánh chìm tàu Lusitania
Tàu Lusitania đang chìm
Trang History.com có đăng bài “German submarine sinks Lusitania” - “Tàu ngầm Đức đánh chìm tàu Lusitania”, được tác giả Nguyễn Thị Kim Phụng dịch, xin trích lược:
“Sau nhiều cuộc tấn công của tàu ngầm Đức nhắm vào các tàu buôn ngoài khơi bờ biển phía nam Ireland, Đô đốc Hải quân Hoàng gia Anh cảnh báo tàu Lusitania nên tránh xa khu vực này hoặc có hành động đánh lừa đơn giản, như dùng hải trình ngoằn ngoèo để gây nhầm lẫn cho các tàu ngầm U-boat đang ngấm ngầm xác định đường đi của con tàu. Dù vậy, Thuyền trưởng của Lusitania vẫn bỏ ngoài tai những khuyến nghị đó, và lúc 2:12 chiều ngày 07/05/1915, tại Biển Celtic, con tàu nặng 32.000 tấn đã bị trúng bom ngư lôi vào bên mạn phải. Theo sau vụ nổ ngư lôi là một vụ nổ khác còn lớn hơn, có thể là do nồi hơi của tàu. Lusitania đã chìm trong vòng 20 phút. Đức biện minh cho hành động tấn công bằng tuyên bố rằng Lusitania là tàu địch và nó đang mang theo đạn dược (mà quả thực là vậy). Tuy nhiên, đây vẫn chủ yếu là một chiếc tàu chở khách và trong số 1.200 người bị chết đuối trong vụ nổ có rất nhiều phụ nữ và trẻ em, trong đó có 128 người Mỹ. Đại tá Edward House, cộng sự thân cận của Tổng thống Mỹ Woodrow Wilson, đang có mặt tại London trong một chuyến thăm ngoại giao khi biết tin về vụ chìm tàu Lusitania. “Nước Mỹ đã đi đến đoạn đường quyết định,” ông viết trong một bức điện gửi Wilson, “khi chúng ta phải xác định liệu mình sẽ ủng hộ chiến tranh văn minh hay thiếu văn minh. Chúng ta không thể tiếp tục là khán giả trung lập nữa”.
Đối mặt với quy mô và sức mạnh áp đảo của Hải quân Hoàng gia Anh khi bắt đầu Thế chiến I, Đức nhận ra vũ khí hiệu quả nhất trên biển là tàu ngầm U-Boat vốn có độ chính xác chết người . Do đó, vào tháng 02/1915, Hải quân Đức đã áp dụng chính sách chiến tranh tàu ngầm không giới hạn, tuyên bố khu vực xung quanh Quần đảo Anh là khu vực chiến tranh, trong đó tất cả các tàu buôn, kể cả tàu từ các nước trung lập, sẽ bị tấn công.
Mặc dù Mỹ đã chính thức tuyên bố trung lập ở thời điểm đó, Anh vẫn là một trong những đối tác thương mại quan trọng của họ, và căng thẳng ngay lập tức nảy sinh đối với chính sách mới của Đức. Đầu tháng 05/1915, một số tờ báo ở New York đã đăng tải một cảnh báo của Đại sứ quán Đức tại Washington rằng người Mỹ đi trên các tàu của Anh hoặc của phe Hiệp Ước trong các khu vực chiến tranh phải tự chịu rủi ro. Trên cùng một trang báo là quảng cáo về chuyến đi sắp tới của tàu du lịch Anh Lusitania từ New York trở về Liverpool.
Wilson sau đó đã gửi một bức điện với lời lẽ mạnh mẽ tới chính phủ Đức – thông điệp đầu tiên trong số ba thông điệp tương tự nhau – yêu cầu ngừng chiến tranh tàu ngầm chống lại các tàu buôn không vũ trang. Hành động này khiến Ngoại trưởng của ông, William Jennings Bryan, một người theo chủ nghĩa hòa bình, nộp đơn từ chức. Dù vậy, Ngoại trưởng kế nhiệm, Robert Lansing, lại có một cái nhìn hoàn toàn khác: vụ chìm tàu Lusitania đã thuyết phục ông rằng nước Mỹ không thể duy trì tính trung lập mãi mãi, và cuối cùng sẽ buộc phải tham gia cuộc chiến chống lại Đức.
Về phía Đức, nỗi sợ phải đối đầu với Wilson và chính phủ của ông đã khiến Hoàng đế Wilhelm và Thủ tướng Theobald von Bethmann Hollweg đưa ra lời xin lỗi tới Mỹ, và cho thực thi một chính sách hạn chế chiến tranh tàu ngầm. Tuy nhiên, đến đầu năm 1917, dưới áp lực của các nhà lãnh đạo quân sự, những người xem chính sách hải quân hiếu chiến là một thành phần không thể thiếu trong chiến lược của Đức trong Thế chiến I, chính phủ nước này đã đảo ngược chính sách của mình và vào ngày 01/02/1917, Đức đã tái khởi động chiến tranh tàu ngầm U-boat. Hai ngày sau, Wilson tuyên bố cắt đứt quan hệ ngoại giao Mỹ – Đức; cùng ngày hôm đó, tàu Housatonic của Mỹ bị một chiếc U-boat đánh chìm. Mỹ chính thức tham gia Thế chiến I vào ngày 06/04/1917”.
Tin tức về con tàu Lusitania trên báo chí Việt Nam thời Pháp thuộc
Báo chí Việt Nam thời Pháp thuộc cũng quan tâm và đưa tin về sự giải quyết trục vớt con tàu này. Trên Thực nghiệp dân báo, số 787 ra ngày 5/7/1923 có bài “Các phương pháp để trục tàu Lusitania”, nội dung như sau:
“Chiếc tàu bể Lusitania của nước Anh Cát Lợi chở 2.000 người hành khách, ngày 22 Mai (tháng 5) 1915 đã bị tàu ngầm của Đức đánh đắm ngoài khơi cách bờ biển phía Đông Nam nước Irlande chừng 8 hải lí, chỗ ấy bể nước sâu tới 73 thước tây mà đất ở đáy biển thì rắn lắm. Xét ra thì tàu Lusitania khi bị đắm rồi, xuống đến đáy bể vẫn đứng thẳng. Nước thủy triều ở nơi ấy cao hơn mặt nước bể những 4 thước Tây.
Hàng hóa trong tàu nhiều lắm, trị giá tới 6 triệu Anh kim, vả chăng nơi ấy cách xa bờ bể cũng không là mấy nên nay người ta đang trù tính kế sách để trục hẳn chiếc tàu ấy lên, hoặc vớt vát lại những đồ đạc cùng hóa hạng đã bị chìm mà ngày nay vẫn còn nằm im dưới đáy bể. Sự mơ tưởng ấy không phải là không thể thực hành được. Tuy nhiên các nhà có tàu ấy nay chưa quyết định ra sao song các nhà chuyên môn về việc trục tàu đang nghiên cứu các kế sách để thi hành cái vấn đề ấy.
Tàu Lusitania dưới đáy biển
Trước nhất, một viên kĩ sư người Mỹ là M. Bliss Leawitt nghĩ cách dùng chiếc tàu Blakelef trọng tải 2.800 tấn có đủ các khí cụ cần dùng rồi cho chở ra giữa chỗ tàu Lusitania bị đắm mà thả những tiềm thủy y (Scaphandres) xuống nước. Những người trong các tiềm thủy y ấy sẽ chuyển tải dần các hàng hóa lên. Song nơi này nước sâu những 73 thước, không thể nào dùng các tiềm thủy y kiểu thường bằng cao su được. Bởi vậy nên viên kĩ sư Leawitt đặc chế ra ít nhiều tiềm thủy y toàn bằng kim khí, tựa như các áo giáp của các chiến sĩ cổ thời có thể chịu được với cái áp lực chiều sâu của nước. Những tiềm thủy y này làm bằng đồng, nặng 175 cân, tay và chân đều làm bằng thứ ống đồng rất mềm tiếp nối với nhau khiến người mặc vào có thể quỳ gối hay khoanh tay được. Chỗ tay áo đồng nối với vai áo thì dùng những viên bi nhỏ đặt trong để người mặc áo đồng có thể cử động theo như ý muốn được. Thứ tiềm thủy y này không có một ống nào truyền hơi ở ngoài vào trong, cái không khí cần cho người mặc tiềm thủy y ấy nó hấp thì sẽ do một bộ máy riêng phát tiết ra, người mặc tiềm thủy y có thể ở dưới nước trong ba giờ đồng hồ mà cũng được dễ chịu như ở nơi khoáng đãng.
Năm 1917 và 1918, M. Leawitt đã dùng thử tiềm thủy y ấy để cho người xuống trục những đồ đạc của tàu Pewabia bị đắm ở hồ Huron năm 1865, chỗ ấy chiều sâu 60 thước. Người dưới nước muốn lên hay xuống thì báo hiệu bằng một cái dây thép buộc trên đỉnh mũ tiềm thủy y. Dây ấy là dây truyền điện cho người đứng trên mặt nước nghe được. Cứ theo như điều dự tính của kĩ sư Leawitt thì khi tàu Bakelef đã tới chính chỗ tàu Lusitania bị đắm rồi, các người mặc tiềm thủy y sẽ lặn xuống nước, dùng các thứ đạn cốt mìn để phá lối vào tàu mà vơ vét hết cả các bảo vật cho vào cái máy trục có thể mang nặng 30 tấn mà trục lên.
Đến như M. Simon Lake cũng là một tay đại chuyên môn về nghề ấy lại nghĩ một kế sách khác vì ý M. Lake là muốn trục được hẳn cả chiếc tàu đắm lên. M. Lake lợi dụng cái phù lực (force de fiottabilité) làm ngay tại bên trong tàu đắm. Theo như bản dự án của ông thì sau khi đã đóng hết các lỗ hổng của tàu đóng hết các lỗ hổng của tàu đắm, ông lợi dụng một chất riêng về hóa học để trong tàu, có thể sinh ra phù lực mà làm cho tàu nổi lên được.
M. Lindquist cũng hiến cái phương sách đem lợi dụng phù lực để trục tàu lên, song có một điều khác là làm ở phía ngoài chiếc tàu bị đắm. Ông định dùng những thứ cầu nổi, mắc vào vỏ tàu bị đắm những khi nước thủy triều lên thì cái cầu nổi cũng theo nước mà lên và nhấc cả chiếc tàu đắm lên nữa. Trục tàu bé ở nơi nước nông thì cái phương sách của M. Lindquist mới có hiệu quả, chú trục một cái tàu trọng tải tới 32.500 tấn như tàu Lusitania ở một nơi nước sâu tới 73 thước thì không thể sao làm được.
Song dù phương pháp nào mặc lòng, những công việc ấy phải làm vào khoảng mùa hạ mới xong vì trong mùa ấy ngoài bể khơi sóng gió thường im lặng”
Vào quãng thời gian đó, ngày 7/2/1905, chiếc tàu quân sự của Pháp Sully bị đắm trên khu vực Hòn Con Cóc – Vịnh Hạ Long. Ngày nay, ngư dân làng chài Hạ Long vẫn gọi vụng này là vụng Tàu đắm và theo nhiều thông tin, người Pháp đã không trục vớt con tàu, để nó vĩnh viễn nằm lại ở đáy vịnh Hạ Long.
Nguyên Phong (Sưu tầm, tổng hợp)
Bài viết liên quan
- Nhịp chèo bả trạo và ước vọng bình yên của phụ nữ xã đảo (06/04/2026)
- Những chiều mưa gió cũ (06/04/2026)
- Năm Ngọ nói chuyện Ngựa (11/02/2026)
- Mùi vị Tết xưa (11/02/2026)
- Xuân về (11/02/2026)
- Tàu thuỷ mùa Xuân (11/02/2026)
- Đầu năm khai bút (10/02/2026)
- Chữ Xuân trong văn cổ (10/02/2026)
- Một đoạn lịch sử về thương cảng Hải Phòng: Bến Ninh Hải trong thế kỉ 19 (08/01/2026)
- Tiến sĩ Bùi Hồng Cẩm – luật sư nữ đầu tiên của Việt Nam thời Pháp thuộc (01/12/2025)










