Chữ Xuân trong văn cổ

Những nhà bác học chuyên khảo về khoa ngôn ngữ thường lấy tiếng nói của dân tộc để xem xét cái trình độ văn hóa. Theo các nhà bác học ấy, dân nào mà chỉ có những tiếng đặt ra để gọi người, gọi những đồ ăn thức đựng (tức là hình nhi hạ, chữ mới gọi là cụ thể danh từ), nghĩa là không có tiếng nói về phần vô hình,về những lý tưởng cao, như nhân nghĩa, bác ái v.v… (tức là hình nhi thượng, chữ mới gọi là trừu tượng, thì dân ấy chưa được văn minh, mới bán khai hoặc còn dã man…).


Xem như “Tập vấn đề ngữ học” (Questionnaire linguistique) của trường Bác Cổ xuất bản năm 1933, về mục thời tiết, chỉ thấy hỏi tên “mùa mưa” và “mùa nắng ráo”, không hỏi chi đến tên bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Tiếng ta cũng không có tên bốn mùa, toàn thị mượn chữ Nho (1). Cả đến tên mùa “hè” cũng do chữ nho là chữ “hạ”, nói trạnh ra, để tiện đặt những câu tục ngũ như câu “đông the, hè đụp”, “mùa hè đóng bè làm phúc” v.v…

Về mùa xuân, thì văn bình dân còn lưu truyền những câu như sau này:

- Một năm dễ có mấy xuân,

Một ngày dễ có mấy giờ dần hỡi ai? (2)

- Một năm một tuổi như đuổi xuân đi,

Cái già sồng sộc nó thì theo sau.

Vì sương cho núi bạc đầu,

Vì đâu mưa nắng cho rầu rĩ hoa (3)

- Vườn xuân hoa nở đầy giàn (4)

Ngăn con ong lại kẻo tàn nhụy hoa.

- Mùa xuân lác đác vườn đào,

Công anh đắp đất, ngăn rào trồng hoa.

Ai làm gió táp mưa sa,

Cho cây anh đổ, cho hoa anh tàn?

- Trăm hoa đua nở mưa xuân,

Cớ sao cúc lại muộn tuần tiết thu?

Vì hoa tham lấy sắc vàng,

Cho nên hoa phải muộn màng tiết thu…

Còn nhiều câu nữa (5), nhưng không có câu nào biết rõ “thế hệ”. Chỉ có vài bài thơ Đường luật chép tên tác giả hay đề niên hiệu rõ ràng như hai bài sau này, soạn vào khoảng đời Lê Hồng Đức, năm 1470 - 1497:

Xuân

- Mờ mịt khi trời đắp đổi vần,

Ba tháng đông, lại ba tháng xuân.

Sinh thành mọi vật đều tươi tốt,

Đằm ấp nào ngày chẳng đượm nhuần.

Tượng mở thái hòa Nghiêu phủ trị,

Ơn nhiều chẩn thải Hán tuy dân.

Đài xuân bốn bể đều vây họp,

Tuổi tám nghìn tôi chúc thánh quân.

- Tự thuở đông hoàng chịu lấy quyền,

Thiều quang làm cảnh sáng xuân thiên.

Đường hoa chấp chới tin ong dạo,

Dặm liễu thung thăng sứ bướm truyền.

Ả Ngụy nàng Diêu khoe đẹp đẽ,

Người thơ khách rượu đón mời khuyên.

Nam nhi gặp thuở công khi ấy,

Ruổi ngựa Trường An mới phỉ nguyền.

(Theo quyển Hồng Đức quốc âm thi tập, sách viết bằng chữ Nôm của trường Bác Cổ, số AB 292, tờ 2a-b)

Nam Phong số 29, ra tháng Novembre (tức tháng 11) 1919 đã đăng hai bài trên ấy, nhưng có vài câu khác với bản Nôm của Bác Cổ, cho nên chúng tôi tưởng nên sao cho đúng (6)

          Những bài thơ sau này thì chưa ai in ra Quốc ngữ:

Lập xuân

Hóa công vần chuyển nhiễm thay là,

Xuân lại trùng xuân đượm khí hòa.

Đề thất tro vừa bay trúc quản,

Phong đình tụng đã ngợi tiêu hoa.

Vang lừng chín bệ dâng lời chúc,

Đằm ấm muôn phương nức tiếng ca.

Xuân đức nay mừng nhuần chốn chốn,

Kính dâng dưới gối chữ Tam đa.

Thưởng xuân (7)

Đẩu bính sang dần tiết mới phân,

Trời xuân thong thả ngự đền xuân.

Thú gồm nhân trí đà nên thú,

Tiệc ngọc vầy vui ánh thụy vân.

Hạ Thánh từ tân xuân

Năm đã dần lên, tháng lại dần,

Đài xuân mừng thấy nhẫn thêm xuân.

Hây hây thức ngọc màn từ ánh,

Hẩy hẩy hơi dương vẻ thụy nhuần.

Thêm rộng chữ nhân dày chữ đức,

Càng gồm sao thọ sánh sao văn.

Khôn cung mừng thấy ưng đa phúc,

Lệnh đức thêm mừng nhật nhật tân.

Vịnh xuân hòa viện

Lan quế thông huyên họp một nhà,

Hây hây đều đặn khí xuân hòa.

Ưng dung mặc tiện đường di tính,

Tiêu sái dù vui tiệc thưởng hoa.

Tham tán công mầu thời nhất đức,

Sùng thành phúc cả vẹn tam đa.

Nay mừng sớm thấy điềm gia ứng,

“Lân chỉ”, “Chung tư” lối trập ca.

(Trích ở quyển Tâm Thanh tồn duy thi tập của Trịnh Tĩnh Vương soạn, tức Trịnh Sâm 1767-1782, sách viết bằng chữ Nôm, số AB376, quyển 1, tờ 1a, 7a, 11b và quyển bốn, tờ 5a(8)).

Xuân nhật tình quang

Mừng thấy tin xuân đã bước vào,

Mùi hương đã trải đọ oanh sao?

Ba dương thịnh mở dôi trường cảnh,

Năm sắc diềm trình dãi cửu tiêu.

Tạch tạch trước thềm vang nhạc Thuấn,

Hây hây tám cõi thỏa trời Nghiêu.

Ngày xuân nay tiện đền xuân bước,

Xuân cả bốn mùa lọ tiết nào.

Ngự chế hạ xuân

Vận thái đua tươi chỉn bội phần,

Thanh huy mọi vẻ mọi thêm nhuần.

Gấm phong tám cõi lồng quang nhật,

Sáng mở muôn phương dãi khánh vân.

Đâu đấy rõ ràng vầy Thuấn đức,

Trong ngoài hớn hở thỏa Nghiêu nhân.

Suy thời lệnh ấy mà làm chính,

Đố bút Vương Duy tả bức chân?

(Trích ở quyển Quốc âm thi tập, sách viết bằng chữ Nôm của trường Bác Cổ, số AB 179, tờ 34a và 67b).

Đại để những bài thơ cổ vịnh xuân đều theo một cái khuôn mẫu như thế: Câu văn thì thực chín, nhưng không thấy nhẹ nhàng bay bổng như thơ cận thời. Có lẽ mãi đến đầu thế kỷ XIX mới nghe thấy “những giọng thánh thót mưa xuân đập mái nhà” với “gió đông gọi khách nhớ đường xa”, và trông thấy cảnh “hoa tươi như dáng hoa cười khách”, “xinh sắc muôn phần”, “hứng vui tùy chí”…

Chú thích:

 (1) Tiếng Mán, tiếng Thổ cũng mượn chữ xuân của tiếng Tàu: Mán thì gọi là Tsuổn hay Tsổn, Thổ gọi là Sên, Nùng cũng gọi là Sên (Sên-xlì là xuân thời, Khay sên là khai xuân), Hoc lo gọi là Xuổn (Xuổn phủn là xuân phân),.v.v.v…

(2) Chúng tôi chép hai câu ấy trong tập Ca dao cổ in ở Nam Phong số 169, tháng Février (tức tháng 2) 1932, trang 138 có người lại sao như thế này:

Một năm là mấy tháng xuân,

Một ngày là mấy giờ dần hỡi ai?

Ai về nhắn liễu Chương Đài,

Có bán gạo chịu; đong hai ba tiền.

Có người chỉ đổi câu thứ hai:

Một năm là mấy tháng xuân?

Ăn chơi cho thỏa phong trần ai ơi.

(3) So câu ấy với câu này:

Tám mươi ngả gậy ra ngồi,

Hỏi rằng xuân có tái hồi nữa thôi?

Xuân rằng xuân chẳng tái hồi,

Bốn dài, hai ngắn mà lôi xuân vào.

 

(4) Ca dao cổ in trong Nam Phong viết là: “Vườn xuân hoa nở đầy giàn”, Gương phong tục của ông Đoàn Duy Bình in trong Đông Dương tạp chí (phần văn chương, năm 1916, trang 3654), thì chép là: “Vườn xuân hoa nở đầu giàn”.

(5) Nói về cách ăn chơi như câu:

Ai ơi, chơi lấy kẻo già,

Măng mọc có lứa, người ta có thì.

Chơi xuân kẻo hết xuân đi,

Cái già sồng sộc nó thì theo sau.

Thói phong tình như ba câu này:

- Tình nhân ơi, hỡi tình nhân,

Lại đây ta kể mưa xuân tháng hè.

Đêm qua mận mới hỏi đào,

Vườn xuân đã có ai vào hái hoa?

Bông đào chênh chếch nở ra,

Dang tay muốn hái, sợ nhà có cây.

Lạ lùng anh mới tới đây,

Thấy hoa liền hái, biết cây ai trồng…

 

- Cái cổ yếm em nó thõng thòng thong,

Tay em đeo vòng như bắp chuối non.

Em khoe em đẹp em giòn,

Anh trông nhan sắc, em còn kém xuân…

Lối bỡn cợt như câu:

Trên thì gián nhấm vứt đi,

Dưới thì chuột cắn, giữa…gì gì xuân.

Xem bấy nhiêu câu, cũng đủ biết lối phong dao của ta hay “chằng” câu này sang câu kia; tiếng Tây bảo thế là “truyền đi trao lại” (Contamination, chính là truyền nhiễm, nhưng đây dùng nghĩa bóng). Câu “gái già sồng sộc, nó thì theo sau” ăn đi hai ba chặng. Câu “Một năm là mấy tháng xuân” chằng sang câu “Ai về nhắn liễu Chương Đài”, có lẽ đây là nhớ câu truyện Kiều: “Khi về hỏi liễu Chương Đài. Cành xuân đã bẻ cho người chuyên tay”.

(6) Quyển Hồng Đức quốc âm thi tập của trường Bác Cổ chép câu đầu có 6 chữ, chắc là chép thiếu,vì bản riêng của chúng tôi có đủ cả bảy chữ như thế này: “Mờ mịt khí trời đắp đổi vần”. Nam Phong (Novembre 1919, trang 426) thì dịch là: “Một khí trời đắp đổi vần” (sáu chữ). Thơ cổ bảy chữ hay chen hai câu hay bốn câu sáu chữ (chứ không phải một câu sáu chữ) nhưng chen mà thôi, nghĩa là len, lẩn vào giữa, chứ không bao giờ lối thất ngôn lại bắt đầu ngay bằng một câu sáu chữ. Xem hai bài sau này, lấy trong Hồng Đức quốc âm thi tập (tờ 1a-b) bài trên, thì câu sáu chữ ở ngay dòng thứ ba và thứ tư; bài dưới, thì ở từ dòng thứ ba đến dòng thứ sáu.

Nguyên Đán

- Âm dương hai khí mặc xoay vần,

Nẻo quá thời đông đến tiết xuân.

Chân ngựa giong khi tuyết lạnh,

Hàng loan rắp thuở canh phân.

Chín trùng chăm chắm ngôi hoàng cực,

Năm phúc hây hây dưới thứ dân.

Mây hợp đền nam chầu trực sớm,

Bên tai dường mảng tiếng thiều quân.

 

- Ba dương đã gặp thuở thời vần,

Bốn bể đều mừng một chúa xuân.

Nức ngai vàng hương mấy hộc,

Trang cửa phượng ngọc mười phân.

Giời lồng lộng hay lòng thánh,

Gió hây hây khắp muôn dân.

Nhờ ấm nhân khi hênh bóng nắng,

Ước dâng muôn tuổi chúc ngô quân.

Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố

(Nguồn: Tạp chí Tri Tân số 34 ra ngày 7/2/1942)

 

 

[1] Tức tháng 11

[2] Tức là tháng 2