Đầu năm khai bút
Đầu năm xuất hành, giữa đường lượm được tập giấy hoa tiên. Tò mò giở xem, mới hay một bức thư dài của người đánh rơi! Thư này ai gửi cho ai? Mà ai lơ lết đánh rơi đây? Những muốn vì ai trao trả lại. Song le, biết đâu Hợp phố mà mong châu về? Đã hay: chẳng duyên chưa dễ vào tay ai cầm; nhưng thực không dám giữ vật bắt được làm của riêng mình. Vậy xin gởi tới Nam Phong quán; cậy gió Nam xa đưa tin tức, nhắc nhẹ ai có bức thư đây:
(Ảnh minh họa)
Mùa xuân năm Kỷ Tỵ
Người bạn gái ở Lạc Hồng Thôn, kính gửi thư nầy đến bậc cao hữu bấy lâu mong mỏi mà chưa gặp.
Mộng trung lương hữu
Bốn phương non nước, một mối viễn hoài, nửa bức tờ mây, xa xa kính gửi. Bạn em ai đó, chẳng biết cho nhau; tấm tình này dù bên trời góc bể, dẫu gang tấc quan sơn cũng thường năm thường nhớ đến người bạn, lòng em kính mến.
Hồng mộng bâng khuâng, mỗi khi nhớ nhau, em thường nghĩ đến người bạn của em: giá cao như ngọc, tài đẹp như hoa, đương độ thanh niên, lòng xuân phơi phới, tưởng như đưa mắt bốn phương, trông đâu là không thấy cái cảnh đời hoan lạc nó hẹn hò mình! Chẳng sâu ngọc bội, cũng phường kim môn, trong tay sẵn có bạc ngàn, giá sử hiếu danh như ai, muốn đeo ấn công khanh, vào làng xa mã, có khó gì? Bạn em sao không đua theo người đời, chen hội vinh hoa tìm hạnh phúc? Vì đâu sớm vội mang lấy một tấm lòng lo đời, yêu nước, miệt mài trong cuộc ưu tư, mải tang bồng bỏ quá xuân xanh? Khiến lòng bạn gái này, nghĩ đến nhau lúc nào, tấm riêng những ngậm ngùi thương cảm. Đã thương nỗi ưu tư của bạn, lại cảm cái bụng lo xa yêu rộng của bạn. Trong thương cảm ấy, biết bao phần kính phục yêu đương.
Dẫu sao nữa, bạn em ơi! tang bồng là kiếp mày râu, bảy thước làm trai, ai đành chẳng nghĩ?... Em mong rằng: tu mi Nam Việt, ai ai cũng biết lo đời yêu nước cả như bạn, thời cuộc đời dù dở cũng nên hay; mà nước non âu cũng có ngày cậy trông.
Nhưng thôi, tin xuân dồn lại khắp xa gần. Có lẽ nào bút xuân lại không góp được đôi lời chuyện xuân? Mà vội đem chuyện đời chuyện nước mở đầu thư, để chim oanh nó cũng cười mình! Song le:
Xuân vui, xuân chẳng bạn mình,
Mình buồn, mình cũng vô tình với xuân!
Thời mảnh hoa tiên này, dẫu có chuyện xuân cũng nhạt phèo! Huống lại năm nay, ốm đau sớm đã ghẹo nhau rồi! Tân niên khai bút, dựa chăn (mền) vạch được một bài:
Quên xuân!
Xuân về đào lý đua tươi,
Màn hoa ngây ngất nọ người quên xuân!
Xuân vui xuân hẹn có ngần,
Mà ta lần lữa để xuân sang hè.
Vui xuân ai khách đi về?
Lòng xuân thiếp những tê mê cuộc đời.
Quên xuân, quên cả tuổi trời,
Ngày xanh mòn mỏi nửa đời với xuân!
Bâng khuâng đỉnh Giáp, non Thần,
Ấy ai giấc mộng đêm xuân mơ màng.
Riêng ai héo hắt can tràng.
Má hồng đẫm lệ năm càng phôi pha.
Kiếp sinh vì cũng như hoa,
Với xuân đằm thắm mặn mà mấy mươi!
Vương mang chi lấy kiếp người?
Tình nhà, nỗi nước, nợ đời ngổn ngang.
Hững hờ xuyến ngọc, hoa vang,
Phấn son hà dám mơ màng như ai!
Khuê trung lần lữa hôm mai,
Trăm lo nghìn nghĩ miệt mài một thân.
Những mình nào biết có xuân?
Thoi vàng gieo đã mấy lần xuân qua.
Khăn hồng thắm, lệ hồng sa,
Vẳng tai mấy tiếng oanh ca giật mình!
Quên xuân, ai có như mình!...
Ôi! con oanh còn biết xuân về; hoa đào, hoa lý có tình gì mà cũng phất phơ vẻ trăng, mầu hồng dưới ánh xuân quang? Nghĩ mình mải khóc để xuân quên mình, mà luống thẹn với chim oanh, hổ cùng đào lý. Nọ khách cẩm y niên thiếu, người đài các phong lưu, xuân về hớn hở, vui xuân ai biết có người quên xuân! Cùng xuân đã chẳng duyên gì, năm năm xuân tới, trước gương so sánh niên hoa, em những hờn xuân xanh hao hụt già theo lệ. Nghĩ một tấm lòng xuân của em đã tiêu điều như thế, thời cầm bút hôm nay biết sẽ nó chuyện gì? Nhưng thôi, bạn em ơi! Xuân sang đã bạn xuân vui, đời nô nức cả, ai người quên xuân! Riêng ta khác dạ hóa ta buồn, âu là cùng nhau ta lại góp phiếm chuyện đời làm khuây.
Cuộc đời luận đến buổi bây giờ, non sông nghĩ nỗi nước nhà ngày nay, dẫu buồng khê cũng từng phen gạt thầm giọt lệ, nữa chi những khách râu mày! Ôi! làm trai Nam Việt buổi này, người biết ra, ai mà dửng dưng được? Cuộc đời đương lúc đảo điên, ngọn sóng tân trào cuồn cuộn như cuốn cả nhân tâm, thế đạo, cương thường, luân lý ngày càng trôi đi. Nhà đạo đức khóc thương phong hóa, lệ đã khô rồi! Kẻ ưu thời lo thay thế đạo, cũng đang buông tiếng "than ôi!" mà nghĩ âu cuộc đời đành vậy! Bậc thức giả trong nước, nghe ra cũng như chán, như buồn, đem lòng hờ hững lánh xa cuộc đời. Nồng nàn thiết thế, thời lại chỉ là trẻ thơ đương độ mảng cuộc chơi bời, đua văn minh mới, vồ vập, tân trào, thấy đỏ ngỡ rằng chín, chen nhau lăn lộn xô vào, mong những cướp lấy phần hơn. Người biết đời, mang dạ chán dời. Kẻ ham đời, lại những lầm đời. Nước đời thế ấy, biết còn toan sao?...
Cuộc đời đành đã rối lung tung. Non nước cảnh nhà, người biết nghĩ, nghĩ càng nát dạ! Nghĩ như chim kia kiếm rác tha mồi, còn biết chắt chiu cái tổ hôm mai đi về. Nữa chi con người ta có nước, có nhà, nỡ đâu lại thờ ơ lạnh nhạt cho đành? Than ôi! ướm hỏi dưới cõi trời Nam này: Nồng nàn yêu thương nước những ai bây giờ?
Cứ hiện tình nước nhà ngày nay, nói đến chuyện "yêu nước" không khỏi khiến người xa lo, nơm nớp lo rằng: phạm thời thế, phạm chính trị. Nhưng không đâu, nếu quả thật "chân chính ái quốc" là phạm thời thế, là phạm chính trị, thì những dân có nước ở thế giới này, còn người dân nào dám yêu nước nữa? Ôi! Nói đến hai tiếng "yêu nước" mà thẹn! Người Việt Nam ta có mấy ai thiết đến non nước, nghĩ đến nòi giống đâu? Sống tạm, sống bợ; ăn sổi, ở thì: miễn cho qua ngày, qua tháng, qua cái đời mình là liễu sự. Việc đời, việc nước mặc ai ai!
Kẻ hạ lưu đã dành vô tri thức, học hành kém, không hiểu đến tình nước non là gì, thời cũng thông không nỡ kể.
Nói ngay những hạng người mà xã hội ta vẫn tôn là "thượng lưu" trong nước kia! Tưởng trong số trăm người, cũng mất đến chín mươi chín người "quên nước".
Đến những dân thôn quê, thời đàn bà con trẻ, hoặc chú nhiêu, bác xã, ngày ngày gánh đôi nồi đình ra giếng khơi, quăng cái gầu xuống vực lấy nước ăn, thì họa chăng còn nói đến nước. Nhưng cũng chỉ là "nước ăn" mà thôi, chớ "nước ở" thì cả đời, ở nhà quê còn ai nói đến? Mà có nghe ai nói… bao giờ!?
Kẻ học giả dẫu nhiều nhưng học để hiến thân cho xã hội, học để làm người rất hiếm. Học vì khoa cử, học trông vào cơm gạo, số lương cao thì nhiều. Đã hay có thực mới vực được đạo; nhưng ngoài khoa cử, ngoài lương gạo, mới là cái học "sống", người nước ta lối học cũng sai đường! Ví bằng ai không có cái bụng hẹp hòi, học vì lương gạo, thì lại có cái chí cao xa là: học để làm quan. Ôi! làm quan ở nước ta, nghĩ cũng sướng thật! mà cũng vẻ vang lắm thay! Nhưng tưởng trong một xã hội đã lấy ông quan làm to, đã lấy ông quan làm trọng, thì hẳn quan cũng là bậc thế nào mới đáng được quốc dân tôn trọng đến thế (?).
Song tiếc thay! Quan đáng bậc là quan không có mấy. Quan nhiều khi vì tư lợi hại dân, đủ khốn dân rồi. Lại dân cũng vì tư lợi, vì lòng đố kị mà hại lẫn nhau nữa. Miếng xôi, miếng thịt, mẫu ruộng, tấc đất cũng đánh nhau vỡ (bể) đầu, đem nhau đến tìm lẽ phải ở chốn công môn, rồi mà đút lót, mượn tay thầy thợ nặn bóp chết nhau. Thương hại thay, dân ngu thường gặp quan tham, thế có khổ không?
Quan thế ấy, dân thế ấy, các hạng người trong nước thế ấy. Nhưng nào đã hết đâu, trong xã hội “Tiên Rồng", con cháu rồng tiên kể ra còn nhiều hạng người hay nữa: trai thuốc xái, gái bạc bài, ông nọ, bà kia hay nhan nhản cả! Kể sao cho xiết, nói sao cho cùng!
Than ôi! nghĩ một dân tộc thế ấy, chuyện nước non thôi có nói năng gì!
Cảnh xã hội tiêu điều tẻ ngắt! Mấy tờ báo ngày ngày đưa tin đến: nào có tin gì là hay, là mới, là lạ đâu? Bài xã thuyết đọc hôm nay, nghĩ ra mới sực nhớ: Mùa thu năm trước đã đọc ở một số báo kia rồi. Nội dung tờ báo, các tin lạ xa gần dồn lại, năm nay cũng chẳng khác gì năm xưa. Thời sự Nam kỳ: một vụ sát nhân; thời sự Trung kỳ: Câu chuyện gian dâm; thời sự Bắc kỳ: cái ô tô đổ! Báo ra dẫu nhiều, mà quanh đi quẩn lại cũng chỉ có bấy nhiêu thôi. Kẻ ham xem báo, thấy tờ báo "suông" đã chán rồi! Con mắt đưa qua rồi gập liệng một xó bàn, hi vọng tờ báo ngày mai có lẽ đậm đà hơn. Mai đến, cũng xuông như vậy! Còn làm gì cho khuây? Hoặc muốn mua vui, lối phồn hoa giương ô (dù) dạo bước, vào mấy cửa tiệm sách, tìm mua một vài cuốn sách đọc được, thì nào có gì? Lăng nhăng toàn những truyện đầu cua tai ếch, ngôn tình tiểu thuyết lặt vặt, mỗi cuốn mỏng tèo độ mười lăm tờ giấy. Hình như tác giả cố ý viết để gọ (nặn) tiền; mà nhà "buôn văn" cũng chỉ cốt buôn lấy chạy hàng, chớ không còn ai nghĩ gì đến cái hứng thú của độc giả nữa; mà có lẽ cũng không nghĩ đến cái ảnh hưởng của tập văn kia đối với phong hóa xã hội ra thế nào. Nếu không tiểu thuyết ngôn tình, thì lại trinh thám, hoặc Phong thần, Chinh đông, Chinh tây, toàn những truyện hoang đường, bịa đặt cóp nhặt của các nước ngoài; hoặc vài tập Tiếu lâm nhạt nhẽo, cho tiền cũng chẳng ai cười. Ôi! văn chương thế ấy, lấy gì mà nuôi được cái tinh thần của những người tri thức.
Buồn quá! cuộc đời như không còn biết lấy gì làm khuây được nữa. Bất đắc dĩ phải tìm đến chốn đông người, bạn bè tụ họp để cùng nhau trò chuyện mua vui. Nhưng nào có câu chuyện gì là câu thú vị? Bạn gái gặp nhau; hết màu áo này nhã, kiểu giầy kia xinh; chị X mặc hợp thời trang, chị Y mới mua được cái khăn tua đẹp.Thì lại: bà phán T canh bạc đêm trước thua cay bốn chục, bà tham B tối thứ bảy nọ mò bắt được ông Tham ở nhà cô đào Z. Bạn gái giòn giả đến đâu, cũng không qua những câu chuyện "tào lao" ấy.
Song, bạn trai vị tất đã hơn gì! Chuyện đời, chuyện nước không mấy người ưa. Có chăng thì lại bàn mảnh nhân tình: tiểu thư khác, cô đào nọ, cô đào kia, cùng là lối ăn, lối mặc, cách chơi bời. Rút cục: cũng là "lạt lẽo" cả! Chẳng qua nói cho khỏi ngồi im, nghe có tiếng vang tai, chứ thật không có thú vị gì.
Trong một cảnh xã hội suông nhạt, tẻ ngơ tẻ ngắt cả như thế, còn gì buồn hơn? Khiến người buồn, buồn nát cả ruột gan! nghĩ mình chẳng kiếp là chim, giả sử có cánh như chim, có thể tung mây được thì cũng tung mây, vượt mình cao mấy ngàn khơi, tìm đến một cõi đời thật vui, thật đẹp, để đổi hẳn cái cõi đời nặng nề, u uất này.
Nghĩ năm năm nữa, mười năm nữa, hai, ba, bốn năm, sáu mươi năm nữa mà tình thế xã hội Việt Nam không thay đổi, trình độ người Việt Nam không hơn trước, cứ mãi mãi như bây giờ: Lòe loẹt trong cái văn minh vỏ; trôi giạt theo ngọn tân trào; không biết thế nào là thực, dở lấy làm hay, hay cho là dở, phải cũng ừ, trái cũng ừ, sống không suy nghĩ, sống không lo liệu; ăn sổi ở thì, sống qua ngày tháng, vô tình lãnh đạm ai ai cũng vậy, thì ta dám bảo rằng: làm dân nước Việt, phỏng còn thú gì! Tuy cũng có ăn, có ngủ, có làm, có lụng, nhưng là là ăn ngủ làm lụng cho rồi đời, đợi cho mãn kiếp mà thôi. Ấy, sống ở nước Nam, sống suông thế đó! Sống mà như vậy, cho dẫu sống đến vạn vạn năm, cũng không biết cái linh thú ở đời là gì. Hay là nhân sinh lấy thích chi làm sướng: đàn ông có thể gửi kiếp râu mày ở chỗ rượu ngon (?) gái đẹp; đàn bà lấy son tô, phấn điểm, cờ bạc dông dài làm thú vui năm tháng; đôi bên đều công nhận những điều sở thích ấy là sinh thú ở đời.
Than ôi! nín đi không đành dạ, nói ra những ngại lời. Cứ như ý ngu si của bạn gái này, tưởng không gì bằng ta biết nuôi lấy một tấm lòng yêu nước. Dân có nước mà không yêu nước, khác gì con có mẹ mà không nhìn mẹ? Những hạng con không nhìn mẹ, dân không yêu nước ấy, có hay gì? Chim quạ nó mỉa mai, con ong, con kiến nó cũng chê cười, còn kể là hạng người có gan có ruột thế nào được?.
Tương Phố
- Việt Nữ sao lục -
(Nguồn: Sách coi tết Canh Ngọ - ấn hành tại Sài Gòn năm 1930, tr.36 - 45)
Bài viết liên quan
- Năm Ngọ nói chuyện Ngựa (11/02/2026)
- Mùi vị Tết xưa (11/02/2026)
- Xuân về (11/02/2026)
- Tàu thuỷ mùa Xuân (11/02/2026)
- Chữ Xuân trong văn cổ (10/02/2026)
- Một đoạn lịch sử về thương cảng Hải Phòng: Bến Ninh Hải trong thế kỉ 19 (08/01/2026)
- Tiến sĩ Bùi Hồng Cẩm – luật sư nữ đầu tiên của Việt Nam thời Pháp thuộc (01/12/2025)
- Những con tàu khổng lồ bằng gỗ nhưng chỉ dùng 1 lần (24/10/2025)
- Trang thơ: Thu về, Điệp khúc tháng 10 (24/10/2025)
- "Trị liệu rừng” - Kết nối thiên nhiên và chữa lành tâm hồn (24/10/2025)










